Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp Gói tư vấn

Tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện K=K

Một điều cũng đáng lưu ý là:

Tải lượng vi rút HIV không phát hiện được chỉ ngăn ngừa lây truyền HIV sang các bạn tình. Không ngăn ngừa được các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác như lậu, giang mai… trong khi bao cao su có thể giúp ngăn ngừa lây truyền HIV. Cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác (STI).

k=k

Do vậy, CDC cũng khuyến cáo

Việc lựa chọn phương pháp dự phòng HIV có thể khác nhau. Tùy thuộc vào hành vi quan hệ tình dục, hoàn cảnh và các mối quan hệ của một người. Ví dụ, nếu có ai đó quan hệ tình dục với nhiều bạn tình. Hoặc trong mối quan hệ không phải là một vợ một chồng. Họ có thể cân nhắc sử dụng bao cao su để ngăn ngừa các bệnh STI khác. Việc tuân thủ điều trị HIV rất quan trọng để duy trì ức chế tải lượng vi rút.

Vậy một người có H khi đã đạt được tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện (<200 bản sao/ml) sẽ không cần sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục? Đây là câu hỏi nhiều người quan tâm.

Câu trả lời là: Nếu bạn muốn ngừng sử dụng bao cao su, điều quan trọng là thảo luận cẩn thận với bạn tình và đảm bảo rằng họ cũng cảm thấy thoải mái với quyết định đó. Điều quan trọng cần nhớ là mặc dù tải lượng vi rút không phát hiện được sẽ ngăn việc lây truyền HIV, nhưng nó không bảo vệ bạn khỏi những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác cũng như mang thai ngoài ý muốn.

Vậy một người đang dùng bao cao su hay dùng thuốc ARV dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) có nên dừng không khi bạn tình có tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện?

Câu trả lời là: Một số người có thể sử dụng một số chiến lược dự phòng HIV vì nhiều lý do khác nhau. Như dùng bao cao su hay PrEP, ngay cả khi bạn tình của họ đạt được tải lượng vi rút dưới ngưỡng ức chế để giảm lo lắng về nguy cơ lây truyền, phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, phòng tránh mang thai, hoặc nếu người bạn tình nhiễm HIV có tiền sử không tuân thủ điều trị ARV. Do vậy điều đó tùy thuộc vào quyết định sáng suốt của bạn.

Nguồn : st

Full House – Tổ chức dựa vào cộng đồng, hỗ trợ cộng đồng trong các lĩnh vực dự phòng, phòng chống HIV/AIDS. Quyền cho người LGBTIQ. Bạo lực học đường trên cơ sở giới.

Thông tiên liên hệ Full House Việt Nam

√ Địa Chỉ 1: KP.Phú Thạnh, P.Mỹ Xuân, TX. phú Mỹ, BRVT

☎ 0961 489 169

√ Địa Chỉ 2 : Bến Cam, Huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai

0394 397 052

√ Email : fullhouse.group2019@gmail.com

Website : www.fullhousevietnam.com

Fanpage : Full House Việt Nam

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp Dự án Dự Án Tin Tức và Sự Kiện

CÂU CHUYỆN THỰC TẾ VỀ CHỦ ĐỀ K=K | KHÔNG PHÁT HIỆN = KHÔNG LÂY TRUYỀN

Sản phẩm video truyền thông của CBOs Aloboy

“Không phát hiện = Không lây truyền” (hay còn gọi là K=K) là một phát hiện mới về lợi ích của điều trị bằng thuốc kháng virut (ARV). với người nhiễm HIV dựa trên bằng chứng khoa học…

Khi điều trị ARV đạt đến mức ức chế virut, nghĩa là tải lượng virut dưới 200 bản sao/ml, hay còn gọi là dưới ngưỡng phát hiện, sẽ ngăn ngừa được HIV qua đường tình dục. Qua ba nghiên cứu trên hàng ngàn cặp bạn tình trái dấu với hàng ngàn lần quan hệ tình dục mà không sử dụng bao cao su hay dùng thuốc dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP), không có bạn tình âm tính nào bị lây HIV từ bạn tình dương tính khi họ có tải lượng virut dưới ngưỡng phát hiện.

Những bằng chứng khoa học về K=K

Cộng đồng y khoa và khoa học toàn cầu đi tiên phong trong nghiên cứu và điều trị HIV/AIDS đã công bố tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 9 về AIDS tại Paris tháng 7/2017, rằng “một mức tải lượng virut HIV không phát hiện được có nghĩa là HIV không còn khả năng lây truyền”.

Nghiên cứu thứ nhất được thực hiện trên 1.763 cặp dị nhiễm HIV ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ (cặp dị nhiễm tức là 1 người nhiễm HIV còn 1 người không nhiễm HIV) trong thời gian từ năm 2005 đến 2015. Trong số này có tới 97% quan hệ tình dục khác giới. Báo cáo đánh giá cuối kỳ vào năm 2016 đã kết luận: “Không có người nào bị lây nhiễm HIV khi bạn tình nhiễm HIV của họ có tải lượng HIV-1 bị ức chế dưới 200 bản sao/ml máu và duy trì ổn định ở những người tham gia nghiên cứu”.

Nghiên cứu thứ hai thực hiện trên 1.166 cặp dị nhiễm HIV ở 14 nước châu Âu và bắt đầu thực hiện năm 2010 ở cả các cặp quan hệ tình dục khác giới và đồng tính nam, tập trung nghiên cứu nguy cơ lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đường âm đạo và hậu môn mà không sử dụng bao cao su hoặc sử dụng thuốc dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) khi bạn tình nhiễm có tải lượng HIV <200 bản sao/ml máu. Đánh giá sơ bộ năm 2016 cho thấy không có trường hợp nào lây HIV từ bạn tình của họ trong 1.238 cặp bạn tình – năm với khoảng 58.000 lần quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su.

Nghiên cứu thứ ba được thực hiện trên 358 cặp dị nhiễm HIV ở Úc, Brazil và Thái Lan từ năm 2012 trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới. Kết quả phân tích cuối kỳ vào năm 2017 cho thấy, không có trường hợp nào bị lây nhiễm HIV từ bạn tình nhiễm HIV khi họ có tải lượng HIV <200 bản sao/ml và không dùng bao cao su hay PrEP. Điều này có nghĩa là khi người bệnh uống thuốc ARV hàng ngày theo chỉ định, đạt được và duy trì tải lượng HIV dưới ngưỡng phát hiện sẽ thực sự không có nguy cơ làm lây truyền HIV sang bạn tình HIV âm tính.

Và ý nghĩa của K=K

Trung tâm Kiểm soát bệnh dịch Hoa Kỳ (CDC) cho biết, người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc ARV có tải lượng HIV trong máu dưới ngưỡng phát hiện thì không có nguy cơ lây truyền HIV qua quan hệ tình dục. Tuy nhiên CDC cũng nhấn mạnh: Tùy thuộc vào loại thuốc điều trị có thể phải mất đến 6 tháng để đạt mức tải lượng HIV dưới ngưỡng phát hiện. Tải lượng HIV được ức chế liên tục và đáng tin cậy đòi hỏi người bệnh phải được sử dụng loại thuốc phù hợp và tuân thủ điều trị tốt. Việc đo tải lượng HIV cần được theo dõi định kỳ để đảm bảo lợi ích sức khỏe người bệnh và sức khỏe cộng đồng.

Một điều cũng đáng lưu ý là: Tải lượng HIV không phát hiện được chỉ ngăn ngừa lây truyền HIV sang các bạn tình chứ không ngăn ngừa được các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác như lậu, giang mai… trong khi bao cao su có thể giúp ngăn ngừa lây truyền HIV cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác và ngăn ngừa việc có thai. Do vậy, CDC cũng khuyến cáo: Việc lựa chọn phương pháp dự phòng HIV có thể khác nhau tùy thuộc vào hành vi quan hệ tình dục, hoàn cảnh và các mối quan hệ của một người. Ví dụ, nếu có ai đó quan hệ tình dục với nhiều bạn tình hoặc trong mối quan hệ không phải là một vợ một chồng, họ có thể cân nhắc sử dụng bao cao su để ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Việc tuân thủ điều trị nghiêm ngặt, hoặc dùng thuốc ARV theo đơn đã kê của thầy thuốc có ý nghĩa rất quan trọng để duy trì ức chế tải lượng virut.

Như vậy, một người nhiễm HIV được điều trị ARV khi có tải lượng virut dưới ngưỡng phát hiện sẽ vừa bảo vệ sức khỏe cho người sống chung với HIV và ngăn ngừa lây nhiễm HIV sang bạn tình. Đồng thời nó giúp giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV và khuyến khích những người nhiễm HIV tuân thủ điều trị.

theo báo khoa học & đời sống

Thông tin chi tiết thêm dõi tại :

Fanpage : www.facebook.com/groupfullhouse

website : www.fullhousevietnam.com

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp Dịch vụ Gói dự phòng Gói tư vấn Gói xét nghiệm HIV/AIDS Tin Tức và Sự Kiện

Thời điểm nào xét nghiệm HIV cho kết quả chính xác nhất?

Giai đoạn đầu sau khi phơi nhiễm HIV thì xét nghiệm HIV có thể cho kết quả âm tính giả, do có thể đó là thời gian “cửa sổ” trong xét nghiệm HIV. Vậy xét nghiệm HIV vào thời gian nào thì cho kết quả chính xác nhất?

1. Nên xét nghiệm HIV vào thời điểm nào?

Nếu tính từ ngày virus xâm nhập cơ thể thì xét nghiệm HIV sau bao lâu là chính xác?

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus có 3 kiểu hình nhân lên như sau:Virus nhân lên nhanh chóng vào tuần đầu, lúc này virus lan khắp cơ thể, có thể thấy virus ở trong dịch não tủy trước cả khi phát hiện được ở trong máu. Sau đó 3 đến 6 tuần, nhiễm trùng bắt đầu giảm, 95% số người bị nhiễm vẫn khỏe mạnh và không nghĩ mình bị nhiễm.

Vậy xét nghiệm HIV sau 6 tuần có chính xác không?

Thời điểm này có thể một số người có những biểu hiện của nhiễm HIV giai đoạn sớm, biểu hiện giống như cảm cúm thông thường, nhưng xét nghiệm HIV vào thời điểm này chưa đảm bảo độ chính xác cao. Tình trạng nhiễm trùng diễn biến thầm lặng. Việc xét nghiệm tìm virus HIV hiệu quả nhất, chính xác nhất thường sau khoảng 2-3 tháng. Có đến 95% bệnh nhân xét nghiệm tìm ra bệnh không dưới 5 tháng sau khi phơi nhiễm với virus HIV Ở một số ít người, có khi còn sau cả vài năm mới phát hiện được nhiễm HIV. Các xét nghiệm máu hiện nay thường qua 2 bậc: Các xét nghiệm bậc 1 thường là test nhanh và được tiến hành 2 lần để giảm bớt sai lệch do kỹ thuật viên hoặc thiết bị gây nên. Nếu thử nghiệm bậc 1 dương tính, lúc đó một loạt các xét nghiệm bậc 2 được dùng để khẳng định tình trạng nhiễm bệnh. Tóm lại, từ 2 – 3 tháng sau khi phơi nhiễm với virus HIV trở đi là thời điểm xét nghiệm tìm HIV khá chính xác.

2. Quy trình xét nghiệm HIV

Nếu đến xét nghiệm HIV tại các nhóm cộng đồng, nhân viên tư vấn sẽ hướng dẫn bạn các thủ tục cần thiết.

Các bước cơ bản như sau:

a. Điền phiếu đồng ý xét nghiệm tự nguyện. Được tư vấn trước xét nghiệm tại chỗ.

b. Sau khi yêu cầu xét nghiệm, lấy mẫu xét nghiệm tùy theo yêu cầu của từng phương pháp. Mẫu xét nghiệm có thể là máu hay dịch tiết trong cơ thể. Sau nhân viên tư vấn xét nghiệm cộng đồng sẽ kiểm tra và trả kết quả sau từ 10-20 phút tùy theo sinh phẩm xét nghiệm sàn lọc đang sử dụng.

c. Kết quả được nhân viên tư vấn trả cho bạn ( có phản ứng hoặc không phản ứng với kháng thể virus HIV), bạn có thể yêu cầu được tư vấn về kết quả.

Thời gian làm xét nghiệm tùy từng loại, nếu là xét nghiệm HIV nhanh thì thời gian làm khoảng 10-30 phút. Như vậy thời điểm xét nghiệm HIV cho kết quả chính xác nhất là sau khi phơi nhiễm với virus HIV từ 2 – 3 tháng. Nếu bạn nghi ngờ mình đã phơi nhiễm, hay có những biểu hiện sớm của bệnh HIV thì nên tiến hành xét nghiệm sớm trong khoảng thời gian này.

Tuy nhiên, hiện nay đã có những phương pháp xét nghiệm sàn lọc nhanh có thể giúp người có nguy cơ nhận biết tình trạng nhiễm của mình chỉ sau 14 đến 28 ngày trở lên. đó là phương pháp xét nghiệm HIV combo AG/AB.

Xét nghiệm HIV ag/ ab combo giúp phát hiện cả kháng nguyên lẫn kháng thể chứa virus gây bệnh HIV. Trong thời gian sớm nhất từ tuần thứ 3 trở đi. Phương pháp này cho phép phát hiện ra virus gây bệnh trong thời gian sớm nhất, chính xác nhất. Khi virus HIV vừa xâm nhập vào cơ thể chỉ sau vài tuần. Nhờ đó có thể kìm hãm sự lây lan của nó trong cơ thể.

Bằng phương pháp xét nghiệm HIV ag/ab combo có thể giúp phát hiện tới 90% trường hợp lây nhiễm cấp tính. Và những người mới lây nhiễm HIV ở giai đoạn đầu của bệnh. Nếu như sử dụng phương pháp xét nghiệm HIV cũ là xét nghiệm máu. Thì chỉ có thể phát hiện trên kháng thể của người nhiễm mà trong những tuần đầu tiên thì kháng thể này chưa xuất hiện vì thế rất khó phát hiện. Chính vì thế phương pháp xét nghiệm combo này được rất nhiều cơ sở y tế và bệnh nhân ưu tiên lựa chọn. Nếu áp dụng cho phụ nữ mang thai thì sẽ cho phép người mẹ được bắt đầu điều trị. Khi vừa phát hiện bệnh để có thể ngăn chặn virus nhiễm vào bào thai và gây bệnh sang cho bé.

ST Vũ Ca

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp Gói tư vấn Tin Tức và Sự Kiện

Triệu chứng hiv giai đoạn cuối

KIẾN THỨC VỀ HIV

Một khi HIV tiến triển thành giai đoạn cuối, tỷ lệ tử vong của người nhiễm HIV sẽ tăng lên khá nhiều. Nếu không điều trị, những người đã tiến triển đến giai đoạn cuối thường chỉ sống được trong khoảng 3 năm. Còn nếu trường hợp người bệnh mắc phải một nhiễm trùng cơ hội nguy hiểm, thì thời gian sống chỉ còn 1 năm.

1. Khi nào HIV được chẩn đoán giai đoạn cuối?

Sau khi các tế bào lympho T-CD4 của một người nhiễm HIV giảm xuống dưới 200 tế bào trên 1μL khối máu thì họ được chẩn đoán HIV đã ở giai đoạn cuối cùng, hay còn gọi là AIDS.

AIDS là giai đoạn cuối của nhiễm HIV, virus suy giảm hệ miễn dịch ở người, tức là virus HIV này làm tổn thương hệ thống phòng thủ của cơ thể. Một khi HIV tiến triển thành AIDS, các triệu chứng HIV giai đoạn cuối bắt đầu phổ biến và tỷ lệ tử vong của người nhiễm HIV sẽ tăng lên khá nhiều. Nếu không điều trị, những người đã tiến triển đến AIDS thường chỉ sống được trong khoảng 3 năm. Còn nếu trường hợp mắc phải một nhiễm trùng cơ hội nguy hiểm, thì thời gian sống chỉ còn 1 năm.

2. Triệu chứng HIV giai đoạn cuối

Khi số lượng các tế bào T-CD4 giảm xuống dưới mức 200 tế bào trên 1μL máu, sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra. Các triệu chứng HIV giai đoạn cuối thường bao gồm: Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể, Sốt, tiêu chảy và ho kéo dài trên 1 tháng; Nhiễm nấm ở hầu họng; nổi ban đỏ, mụn rộp, hạch trên cơ thể và ngứa toàn thân; Cơ thể mệt mỏi, không tập trung.

Nhiễm nấm ở hầu họng là một trong các triệu chứng HIV giai đoạn cuối

3. Điều gì xảy ra khi có triệu chứng HIV giai đoạn cuối

Khi nhiễm HIV giai đoạn cuối, các hệ thống miễn dịch của cơ thể người bệnh bị tổn thương nghiêm trọng nên đến hậu quả là người bệnh dễ bị các nhiễm trùng cơ hội, đây là các loại nhiễm trùng ở cơ thể người bình thường rất khó hoặc hầu như không bị nhiễm.

3.1. Nhiễm trùng phổ biến

Các nhiễm trùng phổ biến liên quan đến HIV giai đoạn cuối gồm:

Bệnh lao (TB): Bệnh lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở HIV giai đoạn cuối.

Virus Cytomegalovirus: Virus herpes được lây truyền qua các chất dịch cơ thể như nước bọt, máu, nước tiểu, tinh dịch và sữa mẹ gây tổn thương cho mắt, đường tiêu hóa, phổi hoặc các cơ quan khác.

Bệnh nấm candida: Candida là một nhiễm trùng phổ biến liên quan đến HIV giai đoạn cuối. Nó gây viêm trên miệng, lưỡi, thực quản hoặc âm đạo.

Cryptosporidiosis: Người bệnh bị nhiễm loại bệnh này thông qua ăn uống thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm. Ký sinh trùng phát triển trong ruột và ống mật, dẫn đến tiêu chảy nặng ở những người HIV giai đoạn cuối.

Viêm màng não do cryptococcus: Viêm màng não do cryptococcus là một bệnh nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương phổ biến liên quan đến HIV, gây ra bởi một loại nấm được tìm thấy trong đất.

Nhiễm độc tố: Nhiễm trùng có khả năng gây tử vong này là do Toxoplasma gondii, một loại ký sinh trùng lây lan chủ yếu ở mèo. Động kinh sẽ xảy ra khi ký sinh trùng lan đến não.

3.2 Các bệnh ung thư ở người nhiễm HIV giai đoạn cuối

Ung thư Kaposi: Là khối u được hình thành ở thành mạch máu, ung thư này hiếm gặp ở những người bình thường, nhưng phổ biến ở những người bị HIV. Ung thư Kaposi có thể ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng, bao gồm cả đường tiêu hóa và phổi.Ung thư hạch: Ung thư này bắt đầu trong các tế bào bạch cầu. Dấu hiệu nhận biết là sưng hạch không đau ở cổ, nách hoặc háng.

3.3 Các loại bệnh khác

Sút cân không rõ nguyên nhân: Người bị nhiễm HIV giai đoạn cuối có thể giảm ít nhất 10% trọng lượng cơ thể và đi kèm với tiêu chảy, suy nhược mãn tính, sốt liên tục.

Biến chứng thần kinh: Bệnh có thể gây ra các triệu chứng thần kinh như nhầm lẫn,hay quên, trầm cảm, lo lắng và khó đi lại. Một trong những biến chứng thần kinh phổ biến nhất là bệnh mất trí nhớ dẫn đến thay đổi hành vi.

Bệnh thận: Là tình trạng viêm ở các bộ lọc nhỏ trong thận. Việc điều trị là dùng thuốc kháng virus.4. Phương pháp làm chậm tiến triển của HIV giai đoạn cuối

Khi xét nghiệm hay phát hiện ra triệu chứng HIV, người bệnh nên điều trị càng sớm càng tốt. Phương pháp điều trị chính ở bệnh HIV là dùng thuốc kháng virus nhằm ngăn chặn virus HIV sinh sản. Điều này giúp bảo vệ các tế bào CD4, giữ cho hệ thống miễn dịch đủ mạnh để chống lại bệnh tật.Việc điều trị bằng thuốc kháng virus cũng nguy cơ lây truyền HIV cho người khác. Một số cách khác có thể giúp làm chậm tiến triển bệnh HIV đến giai đoạn cuối bao gồm: Cân bằng chế độ ăn uống hằng ngày. Tập thể dục thường xuyên Và điều độ. Nghỉ ngơi hợp lý, tránh stress, duy trì tinh thần ổn định.Tránh thuốc lá và các chất kích thích. Báo cáo bác sĩ ngay khi có các triệu chứng HIV bất thường. Quan hệ tình dục an toàn giúp làm chậm tiến triển của HIV giai đoạn cuối

Nói với người thân: Hãy trao đổi tình trạng bệnh với người thân để nhận được sự chăm sóc sức khỏe và tâm lý từ họ.Tâm sự với những người có cùng hoàn cảnh: Hãy tham gia nhóm vào các hỗ trợ HIV, trực tiếp hoặc trực tuyến, vì đó là nơi có thể gặp gỡ những người khác cũng đang phải đối mặt với căn bệnh này. Từ đó có thể hỗ trợ và động viên nhau trong các hoạt động đời sống và các vấn đề bệnh tật.

Nguồn : internet

Fanpage Full House Group

Full House Việt Nam – Tổ chức dựa vào cộng đồng hỗ trợ trong lĩnh vực dự phòng, phòng chống HIV/AIDS. #hiv#pep#prep#fullhouse#fullhousevietnam#dongnai#Vungtau#xetnghiemHIV

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp Tin Tức và Sự Kiện

Những lưu ý khi sử dụng thuốc điều trị HIV (ARV)

KIẾN THỨC VỀ HIV

Đối với người sống chung với HIV việc tuân thủ điều trị giúp nâng cao hiệu quả điều trị, ngăn chặn được virus HIV phát triển, phòng tránh hiện tượng kháng thuốc và duy trì một cách toàn diện sức khoẻ cho người bệnh. Điều trị HIV cần lưu ý những vấn đề sau đây: Tác dụng của thuốc điều trị HIV. Ức chế sự nhân lên của virus HIV và kìm hãm lượng virus trong máu ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, thuốc ARV không loại bỏ hoàn toàn virus HIV nên vẫn cần tuân thủ và duy trì điều trị.

Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc và tử vong do các bệnh nhiễm trùng cơ hội ở người sống chung với HIV. Cải thiện chất lượng sống và tăng thời gian sống. Ngăn cản sự tiến triển HIV sang AIDS.

Những lưu ý khi sử dụng thuốc điều trị HIV

Lưu ý về sử dụng thuốc– Người điều trị HIV vẫn phải áp dụng biện pháp dự phòng lây nhiễm virus cho người khác, với những người điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chưa phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội.– Cần tuân thủ tuyệt đối y lệnh điều trị (hướng dẫn điều trị của bác sĩ).– Do HIV có tỉ lệ nhân lên và đột biến rất cao nên cần phải dùng thuốc đúng liều, đúng giờ và đều đặn mỗi ngày.

Nếu uống không đúng sẽ dẫn đến việc nồng độ thuốc trong máu thấp, các đột biến của hiv sẽ xuất hiện sự kháng thuốc, việc điều trị sẽ thất bại.

1. Trường hợp phát hiện quên uống thuốc theo lịch thì phải uống ngay liều thuốc vừa quên, uống liều tiếp theo như thường lệ. Nếu thời gian uống thuốc liều kế tiếp dưới 4 giờ, cần để trên 4 giờ mới uống liều kế tiếp. Nếu quên 2 liều trong một tuần, phải báo bác sĩ điều trị để được hướng dẫn.

2. Tác dụng phụ của thuốc

– Buồn nôn: Để hạn chế tác dụng phụ này, có thể uống thuốc trong hoặc ngay sau bữa ăn hoặc có thể uống thuốc chống nôn trước khi uống ARV 30 phút.

– Tiêu chảy: Khi uống thuốc, nếu thấy bị tiêu chảy, cần đánh giá mức độ tiêu chảy và các triệu chứng kèm theo. Khi bị tiêu chảy cần uống oresol để bù nước, điện giải. Nếu nặng cần truyền dịch hoặc có thể phải dùng các thuốc chống tiêu chảy để hạn chế tiêu chảy tạm thời.

– Đau đầu: Trường hợp thấy đau đầu khi dùng thuốc có thể dùng các thuốc giảm đau thông thường như paracetamol để giảm bớt đau đầu.

– Đau bụng, khó chịu ở bụng: Đối với hiện tượng này cần phải theo dõi kỹ. Trường hợp đau liên tục cần tới cơ sở y tế nơi cấp thuốc để được xử lý, thậm chí là phải thay thế thuốc khác hoặc đổi phác đồ điều trị.

– Phát ban, ngứa: Cũng giống như các thuốc điều trị khác, thuốc ARV cũng có thể gây dị ứng. Nhẹ thì có biểu hiện ban đỏ rải rác, ngứa… Khắc phục bằng cách: uống thêm thuốc kháng histamin. Tuy nhiên nếu dị ứng nặng có thể đe dọa tính mạng cần ngừng thuốc ngay và điều trị tích cực tại các trung tâm y tế có đủ điều kiện.

– Thiếu máu: Một số thuốc ARV có tác dụng ức chế tủy xương làm cho tủy xương giảm khả năng sinh ra hồng cầu gây thiếu máu với các biểu hiện như hoa mắt, chóng mặt. Thường xuất hiện sau 4-6 tuần hoặc có thể xuất hiện sau vài tháng điều trị bằng thuốc ARV. Có thể bổ sung vitamin B12, viên sắt, folic… để khắc phục tình trạng này.

– Rối loạn giấc ngủ, ác mộng: Nên dùng vào buổi tối, trước khi đi ngủ, các triệu chứng này thường không kéo dài. Có thể dùng các loại thuốc an thần, thuốc hỗ trợ để ngủ tốt hơn.

– Bệnh lý thần kinh ngoại vi: Biểu hiện rối loạn cảm giác ngoại vi, chủ yếu ở đầu chi, đi lại khó khăn. Cần sử dụng vitamin B liều cao để hỗ trợ, nếu nặng phải thay thế thuốc.

– Thuốc có thể độc với gan, thận: Một số thuốc gây hủy hoại tế bào gan, tăng men gan, cần ngừng thuốc khi tăng men gan gấp 5 lần bình thường.

– Phân bố lại mỡ: Một số thuốc làm tăng tích tụ mỡ ở ngực, bụng, lưng, gáy, teo mô mỡ ở cánh tay, cẳng chân, mông má.

– Độc với thần kinh trung ương: Biểu hiện lẫn lộn, rối loạn tâm thần, trầm cảm, cần dừng và thay thế thuốc khi có vấn đề về tâm thần kinh.Các thuốc ARV có nhiều tác dụng phụ, vì thế trong quá trình dùng thuốc nếu thấy có biểu hiện bất thường nào, cần thông báo ngay cho bác sĩ điều trị biết để có cách xử trí phù hợp.

Nguồn : internet

Fullhousevietnam – tổ chức dựa vào cộng đồng, hỗ trợ cộng đồng trong lĩnh vực dự phòng, phòng chống HIV/AIDS.

Chi tiết liên hệ
☎ 0961 489 169 – BRVT

☎ 0394 397 052 – Đồng Nai

Hoặc truy cập Fanpage Facebook Full House Group

#fullhouse#fullhousevietnam#hiv#XetnghemHiV#PEP#PrEP#DuphongHIV

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp

sự thật về quan hệ tình dục bằng miệng

Kiến thức về HIV

Nhiều năm trước, nhắc đến quan hệ tình dục bằng miệng là một điều hết sức nhạy cảm, thậm chí cấm kỵ. Thì giờ đây, chúng ta có thể nghe về vấn đề này rất nhiều trên phương tiện thông tin đại chúng hay các chương trình đêm khuya được phát sóng trên tivi.Đối với người trưởng thành, quan hệ tình dục bằng miệng được xem là một điều thú vị và lành mạnh. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người chưa nhận thức hết về kiểu quan hệ tình dục này. Dưới đây là ba sự thật về quan hệ tình dục bằng miệng có thể làm bạn ngạc nhiên.

1. Quan hệ tình dục bằng miệng có thể dẫn tới ung thư vòm họngUng thư sao? Chính xác là như vậy! Theo Giám đốc Y khoa của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ Otis Brawley, MD cho biết: “Bạn có thể bị ung thư vòm họng khi quan hệ tình dục bằng miệng”.Không phải cứ quan hệ tình dục bằng miệng sẽ gây ra ung thư. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ người bị nhiễm virus có tên là papillomavirus (HPV), loại virus này có thể truyền từ người sang người khi quan hệ tình dục, bao gồm cả quan hệ tình dục bằng miệng.

Virus HPV là một trong những nguyên nhân có thể gây ra ung thư vòm họng và amidan. Nếu bạn không tiếp xúc với virus HPV khi quan hệ tình dục bằng miệng, nguy cơ mắc ung thư sẽ không xảy ra.Một nghiên cứu đã được công bố trên Tạp chí Y học New England năm 2007 cho thấy nguy cơ mắc ung thư vòm họng cao hơn ở những người có quan hệ tình dục bằng miệng với ít nhất sáu đối tượng khác nhau. Cả nam giới và nữ giới đều có thể bị nhiễm trùng HPV ở cổ họng, phổ biến nhất là những người đàn ông có quan hệ tình dục khác giới ở độ tuổi 40-50. Tuy nhiên, các bác sĩ cho biết rằng ung thư vòm họng do virus gây ra dễ điều trị hơn so với các nguyên nhân gây ra bởi các yếu tố như hút thuốc và uống rượu.Hiện nay, phương pháp phòng ngừa tốt nhất vẫn chưa rõ ràng, tiêm vắc xin HPV có thể là một trong những biện pháp phòng ngừa ung thư vòm họng do quan hệ tình dục bằng miệng.

2. Quan hệ tình dục bằng miệng làm gia tăng sự thân mật

Theo tiến sỹ kiêm nhà trị liệu tình dục Louanne Cole Weston cho biết, trong số những người trưởng thành, quan hệ tình dục bằng miệng gây căng thẳng và tăng sự thân mật cho các cặp vợ chồng. Cô nói rằng căng thẳng về quan hệ tình dục bằng miệng thường xuất phát từ vấn đề vệ sinh. “Một người sẽ không muốn tiếp nhận nó vì người đó lo lắng về phản ứng của đối phương”, Weston nói. Một số người cũng có thể lo lắng về hiệu suất của họ – thực hiện tốt để làm hài lòng đối phương hoặc đáp lại một cách thích hợp.

Trong một số trường hợp khác, trải nghiệm quan hệ tình dục bằng miệng như một “chất tăng cường mối quan hệ” và “một kết nối rất mật thiết” được chia sẻ với đối phương. Weston nói thêm: “Đó là việc có thể nhìn vào đối phương và thấy họ đang đi vào không gian thực sự rất riêng tư của nhau”.

3. Quan hệ tình dục bằng miệng không sử dụng biện pháp bảo vệ có nhiều rủi ro.

Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) bao gồm HIV, herpes, giang mai, lậu, HPV và viêm gan virus có thể được truyền qua quan hệ tình dục bằng miệng.Theo Terri Warren, RN, chủ sở hữu của Westover Heights Clinic ở Portland (Mỹ) – một phòng khám tư nhân chuyên về STDs nói rằng: “Quan hệ tình dục bằng miệng không phải là quan hệ tình dục an toàn. Đây chỉ là một cách thức tình dục an toàn hơn những cách quan hệ khác, nhưng không an toàn tuyệt đối”.Các rủi ro phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm bạn có bao nhiêu bạn tình, giới tính của bạn và những hành vi tình dục bằng miệng cụ thể mà bạn thực hiện.

Để giảm nguy cơ mắc các bệnh tình dục, bạn có thể sử dụng bao cao su bao phủ dương vật, hoặc một “tấm bảo vệ miệng” bằng nhựa hoặc latex đặt ở âm hộ hoặc hậu môn.Ngoài ra bạn cần khám sàng lọc các bệnh xã hội nhằm phát hiện bệnh sớm để có hướng điều trị hiệu quả, tránh biến chứng về sau.

Nguồn : internet

Full House Việt Nam – Tổ chức dựa vào cộng đồng, hỗ trợ dự phòng phòng chống HIV/AIDS cho cộng đồng nguy cơ cao.

Chi tiết tham khảo tại Fanpage Full House Group

Hoặc ☎ 0961 489 169 – BRVT

☎ 0394 397 052 – Đồng Nai

☎ 0785 413 793 – Hà Nội

“Nơi hạnh phúc bắt đầu, Nơi khơi nguồn sáng tạo” #fullhouse#fullhousevietnam#hiv#DuphongHIV#prep#pep#ARV#Free#Vũng_Tàu#DongNai#HaNoi#LifeCentre#PEPFAR

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp

Tiêu chảy ở người nhiễm HIV

KIẾN THỨC VỀ HIV

Tiêu chảy ở người nhiễm HIV gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, trong đó hậu quả chính là mất nước, thiếu hụt điện giải và suy dinh dưỡng. Mất nước điện giải nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

1. Tiêu chảy HIV như thế nào?

1.1. Định nghĩaTiêu chảy tức là hiện tượng đi ngoài quá nhiều lần trong 1 ngày, kèm theo đó là dấu hiệu ở phân như có mùi khó chịu, chua, sủi bọt hoặc có thể là kèm theo máu. Căn bệnh này có thể khiến người bị nhiễm HIV nhanh chóng kiệt quệ sức lực, héo mòn. Nếu tình trạng này không được ngăn chặn và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

1.2. Nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy ở người bị HIV là do nhiễm trùng đường ruột, ký sinh trùng và virus gây nên. Đây cũng được biết đến là nhiễm trùng cơ hội liên quan đến AIDS do tác dụng phụ khi người bị nhiễm HIV sử dụng một số loại thuốc.

1.3. Triệu chứng lâm sàng của bệnh

Tiêu chảy không rõ ràng, có thể đi phân lỏng 1-2 lần/ngày, hoặc có khi vài ba ngày mới có triệu chứng đi ngoài phân lỏngĐau bụng, có thể đi ngoài phân có máu. Triệu chứng này xảy ra khác nhau ở từng người về tần suất xuất hiện.Các triệu chứng khác như sốt, đau khớp, ra mồ hôi trộm vào ban đêm, viêm họng hay phát ban. Các triệu chứng này thường kéo dài hàng tuần. Điều này khiến người bị nhiễm HIV suy giảm hệ miễn dịch, có thể bị nhiễm trùng cơ hội.Ở giai đoạn muộn, do hệ miễn dịch suy giảm, người bệnh bị nhiễm trùng cơ hội, có thể nhiễm khuẩn tiêu hóa với triệu chứng tiêu chảy kéo dài, mỗi ngày vài lần có thể kéo dài hàng tháng khiến người bệnh bị suy kiệt.

2. Cách điều trị tiêu chảy ở người HIV

Trước tiên, cần phải xác định xem bệnh nhân có bị mất nước và điện giải hay không, thông qua những dấu hiệu sau:Khát nước.Da nhăn nheo lâu sau khi véo da (dấu hiệu Casper), môi se, mặt hốc hác.Ở trẻ em nếu còn thóp, thì thóp lõm xuống, trẻ quấy khóc, vật vã (Trẻ còn bú, đi ngoài từ 2-4 lần/ngày, nếu vượt gấp rưỡi hoặc hơn là trẻ bị tiêu chảy).Sụt cân, nhiều trường hợp mất nước nặng có thể sút từ 5-10% trọng lượng cơ thể.Mạch nhanh, có thể bị tụt huyết áp.Tiêu chảy HIV là bệnh rất nguy hiểm, bởi vậy cách điều trị đúng thời điểm, hợp lý là cách duy nhất cứu sống người nhiễm HIV. Những người nhiễm HIV bị tiêu chảy bị mất nước và điện giải. Vậy nên việc bổ sung nước là điều quan trọng đầu tiên trong quá trình xử trí căn bệnh nguy hiểm này.

Uống Oresol (gói bột điện giải), pha một gói với một lít nước nguội, nếu pha không đúng quy định sẽ không phát huy hết tác dụng của thuốc. Khuấy kỹ và đều dung dịch cho tan hết trong nước, uống thay nước, từ 1-3 gói/ngày. Không kiêng ăn: Đối với bệnh nhân tiêu chảy cần ăn đủ lượng dinh dưỡng cần thiết để giữ sức khoẻ và chống sụt cân. Nên ăn thức ăn đủ dinh dưỡng như hỗn hợp gạo và đậu, hoặc hỗn hợp của gạo với thịt hoặc cá. Bổ sung dầu ăn vào thức ăn để tăng năng lượng. Những sản phẩm từ sữa, chuối, trứng rất giàu dinh dưỡng và tốt cho bệnh nhân. Nên khuyến khích người nhiễm HIV bị tiêu chảy ăn nhiều, chia thành nhiều bữa trong ngày. Bệnh nhân ăn càng nhiều càng tốt. Với trẻ nên chia nhỏ thành nhiều bữa, ăn nhiều lần trong một ngày để dễ tiêu hoá.Trong trường hợp nếu người nhà bệnh nhân phát hiện người bệnh nhiễm HIV bị tiêu chảy, cần phải đưa đến ngay bệnh viện trong các trường hợp sau:Cảm thấy rất khát.Bị kích thích vật vã, sốt nhiều, hoặc thờ ơ với ngoại cảnh.Không ăn uống được bình thường. Thấy tình trạng sức khoẻ chung bị giảm sút. Đi ngoài trên 10 lần/ngày. Có máu trong phân.Tiêu chảy kéo dài. Bị nôn mửa nhiều lần. Để phòng tránh hội chứng tiêu chảy đối với người nhiễm HIV, cần chủ động làm tốt những bước giữ gìn vệ sinh trong sinh hoạt và ăn uống.

Khám bệnh

Nếu cảm thấy rất khát, bị kích thích vật vã, sốt nhiều, bệnh nhân cần phải đến bệnh viện ngay để được cấp cứu kịp thời. Cụ thể, người nhiễm HIV cần ăn những thức ăn được rửa sạch, nấu chín, chế biến đúng quy cách, không ăn đồ sống, tái, thức ăn để lâu; luôn uống nước đã đun sôi, đảm bảo nguồn nước sạch; rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh, sau khi vệ sinh cho trẻ, sau khi tắm rửa cho người ốm, sau khi chạm vào động vật và trước khi ăn. Không chỉ điều trị bệnh, những người nhiễm HIV cần chú ý bảo vệ sức khỏe mình trong những ngày bình thường để tránh làm cho hệ miễn dịch suy giảm các vi khuẩn có cơ hội lây lan. Người nhiễm HIV cần vệ sinh cá nhân sạch sẽ, uống nước đun sôi, ăn thức ăn đảm bảo vệ sinh. Chỉ có như vậy mới tự bảo vệ được bản thân và không lây nhiễm bệnh tật cho người khác.

Nguồn : internet

Full House Việt Nam – Tổ chức dựa vào cộng đồng với sứ mệnh can thiệp giảm hại hỗ trợ cho cộng đồng trong lĩnh vực dự phòng, phòng chống HIV/AIDS trên 3 nhóm cộng đồng nguy cơ cao : IDU, FSW, MSM-TG, bạn tình – bạn chích của NCH.

Chi tiết tại Fanpage Full House Group

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp

KIẾN THỨC VỀ HIV

Chung sống với HIV/AIDS: Những điều cần biếtNhững tiến bộ của y học trong điều trị HIV giúp những người bị nhiễm virus có chất lượng cuộc sống tốt hơn và kéo dài tuổi thọ. Đối với hầu hết mọi người, khi nhiễm virus HIV đều không ảnh hưởng đến khả năng làm việc, đi học hoặc giao tiếp xã hội..

1. Bị nhiễm HIV có nghĩa là bạn bị AIDS?

Trả lời: Điều đó là sai. Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) là một loại virus phá hủy các tế bào miễn dịch CD4 có chức năng giúp chống lại bệnh tật của cơ thể. Với các loại thuốc phù hợp, bạn có thể bị nhiễm HIV trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ mà không bị HIV tiến triển thành AIDS. AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) được chẩn đoán khi bạn bị nhiễm HIV cũng như một số bệnh nhiễm trùng cơ hội nhất định hoặc số lượng tế bào CD4 của bạn giảm xuống dưới 200.

2. Khó lây nhiễm HIV từ những người tiếp xúc thông thường ?

Trả lời: Điều đó là đúng. Bạn không thể bị lây truyền HIV từ việc ôm ai đó, sử dụng cùng một chiếc khăn hoặc dùng chung một ly. Rất hiếm khi nhiễm HIV từ truyền máu do trước khi thực hiện truyền máu, thì máu ở Hoa Kỳ hay Việt Nam đều được kiểm tra rất cẩn thận. Tuy nhiên, bạn có thể mắc bệnh do quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung kim tiêm hoặc xăm hình từ các thiết bị không được khử khuẩn.

3. Khi nhiễm HIV, bạn chỉ còn vài năm để sống?

Trả lời: Điều đó là sai. Do các loại thuốc HIV hiện đã có sẵn nên rất nhiều người có thể sống hàng thập kỷ với HIV và có tuổi thọ bình thường hoặc gần như bình thường. Bạn có thể giúp ngăn ngừa HIV tiến triển thành AIDS bằng cách đi khám bác sĩ thường xuyên, uống thuốc và làm theo hướng dẫn của bác sĩ.Sống chung với hivBạn có thể giúp ngăn ngừa HIV tiến triển thành AIDS bằng cách đi khám bác sĩ thường xuyên, uống thuốc và làm theo hướng dẫn của bác sĩ.

4. Bạn sẽ biết khi nào mình bị nhiễm HIV vì có các triệu chứng điển hình?Trả lời: Điều đó là sai. Một số người không có dấu hiệu nhiễm HIV trong nhiều năm sau khi bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, nhiều người có thể có một số triệu chứng trong vòng 10 ngày đến vài tuần sau khi bị nhiễm bệnh. Những triệu chứng đầu tiên này tương tự như cúm hoặc tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (mononucleosis) và có thể bao gồm sốt, sưng hạch bạch huyết, đau họng, phát ban và đau cơ. Các triệu chứng này thường biến mất sau một vài tuần và bạn có thể không có triệu chứng này nữa trong vài năm. Cách duy nhất để chắc chắn bạn bị nhiễm HIV là đi xét nghiệm máu.

5. HIV có thể được chữa khỏi

Trả lời: Điều đó là sai. Hiện tại chưa có cách điều trị HIV khỏi hoàn toàn trong hầu hết các trường hợp, điều trị có thể kiểm soát tải lượng vi rút và giúp duy trì hệ thống miễn dịch của bạn. Một số loại thuốc cản trở vào protein HIV sao chép chính nó hay một số thuốc khác thì ngăn chặn virus xâm nhập hoặc chèn vật liệu di truyền của nó vào các tế bào miễn dịch của bạn. Tất cả những người nhiễm HIV nên bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng vi-rút. Bác sĩ sẽ cho bạn biết bạn có thể sử dụng thuốc nào là tốt nhất cho bạn.

6. Bất cứ ai cũng có thể bị nhiễm HIV

Trả lời: Điều này là đúng. Khoảng 37.600 người ở Hoa Kỳ bị nhiễm HIV mỗi năm và hơn 12.000 người bị AIDS chết mỗi năm. Bất cứ ai cũng có thể bị nhiễm HIV bao gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em, những người đồng tính. Quan hệ tình dục giữa nam giới và nam giới chiếm khoảng 26.300 ca nhiễm HIV mới mỗi năm, phụ nữ chiếm khoảng 7.400 ca nhiễm mới. Người Mỹ gốc Phi có số lượng người nhiễm HIV cao nhất so với các chủng tộc và sắc tộc khác.

7. Quan hệ tình dục an toàn kể cả khi cả hai đều nhiễm HIV

Trả lời: Điều đó là đúng. Kể cả khi bạn và bạn tình đều nhiễm HIV thì điều đó không có nghĩa là bạn nên quên đi việc bảo vệ khi quan hệ tình dục. Sử dụng bao cao su hoặc hàng rào latex khác có thể giúp bảo vệ bạn khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác cũng như các chủng HIV khác, có thể có kháng thuốc chống HIV. Ngay cả khi bạn đang được điều trị và cảm thấy sức khỏe tốt, bạn vẫn có thể lây nhiễm cho người khác.

8. Bạn có thể có con kể cả khi bạn bị nhiễm HIV

Trả lời: Điều đó là đúng. Người mẹ bị nhiễm bệnh có thể truyền HIV cho con trong khi mang thai hoặc sinh nở. Nhưng bạn có thể giảm thiểu rủi ro này bằng cách nói chuyện với bác sĩ và nhận được sự chăm sóc, thuốc men phù hợp. Phụ nữ mang thai nhiễm HIV có thể dùng thuốc để điều trị nhiễm trùng và giúp bảo vệ em bé chống lại virus. Sống chung với hiv. Phụ nữ mang thai nhiễm HIV có thể dùng thuốc để điều trị nhiễm trùng và giúp bảo vệ em bé chống lại virus

9. Bạn không thể tránh các bệnh nhiễm trùng khác liên quan đến HIV

Trả lời: Điều đó là sai. Những người nhiễm HIV có thể có khả năng bị nhiễm trùng như viêm phổi, lao, nhiễm nấm candida, cytomegalovirus và nhiễm toxoplasmosis. Cách tốt nhất để giảm rủi ro là dùng thuốc điều trị HIV. Những người bị nhiễm HIV tiến triển (AIDS) có thể ngăn ngừa một số bệnh nhiễm trùng này bằng các loại thuốc cụ thể ngoài liệu pháp kháng vi-rút. Bạn có thể giảm tiếp xúc với một số vi trùng bằng cách tránh các nguồn gây ô nhiễm như thịt chưa nấu chín, nguồn nước bị ô nhiễm…10. Bạn không thể có được thuốc mà không có bảo hiểmTrả lời: Điều đó là sai. Có các chương trình của chính phủ, các nhóm phi lợi nhuận và một số công ty dược phẩm có thể giúp bạn trang trải chi phí cho thuốc HIV / AIDS.

Full House – Tổ chức hỗ trợ cộng đồng trong lĩnh vực dự phòng, phòng chống HIV/AIDS.

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ :

☎ 0961.489.169 – BRVT

☎ 0394.397.052 – Đồng Nai

☎ 0785.413.793 – Hà Nội.

Hoặc truy cập Fanpage Facebook

Nguồn : internet #vietnam#Vungtau#PhuMy#HIV#AIDS#FULLHOUSE#DONGNAI#FULLHOUSEVIETNAM

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp Dịch vụ Gói dự phòng

NẮM RÕ HIỆU QUẢ CỦA TENOF EM TRONG ED-PREP⁉️

🎯 NẮM RÕ HIỆU QUẢ CỦA TENOF EM TRONG ED-PREP⁉️

Thuốc Tenof EM là thuốc gì?

Thuốc Tenof EM có được sử dụng trong ED-PrEP? Đó là câu hỏi mà rất nhiều người đang quan tâm về thuốc Tenof EM hiện nay. Tenof EM được chỉ định dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) cho các đối tượng có nguy cơ cao. Tenof EM do Công ty Hetero Labs Limited, 🇮🇳 Ấn Độ sản xuất. Tenof EM có thể dùng cho nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), chưa nhiễm HIV và có nguy cơ nhiễm HIV bao gồm:

✔️ Có quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su với nhiều bạn tình không rõ tình trạng nhiễm HIV

✔️ Bạn tình có HIV nhưng chưa điều trị hoặc đang điều trị có tải lượng vi rút dưới 200 bản sao/ml máu❓

ED-PrEP (PrEP theo tình huống/ PrEP sự kiện) là gì?

▶️ ED-PrEP là thuốc uống điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV mới và làm giảm nguy cơ HIV qua đường tình dục đến hơn 90% tương đương với sử dụng PrEP hàng ngày

▶️ ED-PrEP sau 2h – 24h uống thuốc có tác dụng bảo vệ, trong khi PrEP hàng ngày 7 ngày sau mới có tác dụng bảo vệ (quan hệ tình dục qua đường hậu môn)

▶️ ED-PrEP được khuyến cáo chỉ sử dụng cho nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới và có tần xuất quan hệ tình dục thấp (<2 lần/ tuần)

▶️ ED-PEP không được khuyến nghị trong các trường hợp: Người bị nhiễm viên gan B mạn tính; Người có giới tính sinh học là nữ; Người chuyển giới

📌 Theo khuyến cáo mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đối với nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới còn có thể sử dụng PrEP theo một cách khác, đó là có thể chuyển từ PrEP hàng ngày sang ED-PrEP và ngược lại.

📢 Với những thông tin trên thì thuốc Tenof EM của hãng Hetero hoàn toàn có thể dùng trong ED-PrEP và vẫn đạt hiệu quả cao với liều dùng: 2+1+1

👉 Liều đầu: Uống 2 viên từ 2 đến 24h trước khi quan hệ tình dục

👉 Liều 2: Uống 1 viên sau 24h kể từ khi uống 2 viên đầu tiên

👉 Liều 3: Uống tiếp 1 viên sau 24h kể từ khi uống viên thứ 3 (sau 48h kể từ khi uống 2 viên đầu tiên)

⚠️ Lưu ý: Để duy trì mức độ hiệu quả cao, đừng bao giờ quên vên thuốc nào cả

💗 Lấy máu tại nhà…

⁉️ Bạn cần hỗ trợ hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Chuyên mục
Câu Hỏi Thường Gặp

Sùi mào gà là gì? nguyên nhân gây ra gùi mào gà?

1. Sùi mào gà là gì?
Bệnh sùi mào gà là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp nhất. Tác nhân gây bệnh là do một loại virus có tên là Human Papiloma Virus (HPV). Tổn thương cơ bản do virus này gây ra là các sẩn nhỏ màu hồng nhạt hoặc bề ngoài trông giống như súp lơ, ban đầu có thể chỉ nhỏ bằng đầu đinh ghim hoặc có thể tiến triển thành đám lớn.
Các sang thương thường gặp tại những vị trí ẩm ướt của vùng sinh dục, ở âm hộ, âm đạo, đáy chậu và cổ tử cung ở nữ; ở quy đầu, thân dương vật, da bìu và hậu môn ở nam. Đôi khi sang thương cũng có thể nhiễm ở miệng, hầu họng nếu quan hệ tình dục đường miệng với người bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, mọi biểu mô của tổn thương sùi mào gà bong ra đều có chứa HPV, do vậy HPV còn có thể lây truyền dễ dàng và gây bệnh trên da, niêm mạc có tiếp xúc trực tiếp với sang thương.
2. Nguyên nhân gây ra sùi mào gà:
– Do quan hệ tình dục không an toàn, quan hệ với người nhiễm bệnh
– Do tiếp xúc với mầm bệnh như : khan mặt , quần áo……
– Di truyền từ mẹ sang con
– Do vết thương hở tiếp xúc trực tiếp với môi trường hoặc trên cơ thể người nhiễm bện
3. Triệu chứng nhận biết :

– Giai đoạn ủ bệnh : thời gian này tương đối dài trung bình diễn ra khoảng 3 tháng. Biểu hiện không ro ràng, thường chỉ có biểu hiện ngứa ngấy ở bộ phận sinh dục hoặc hậu môn, nóng rát, chảy máu khi quan hệ
– Giai đoạn lâm sang : xuất hiện cấc tổn thương khi quan hệ như:gần hố thuyền , hố niệu đạo, dương vật, quanh hậu môn, âm đạo….
– Giai đoạn phát bệnh :xuất hiện các nốt sần nhỏ màu đỏ,mềm. số nốt sần tang lên nhanh chóng và tụ lại thành từng cụm, có hình dạng giống hoa lơ, mào gà. Bề mặt sần sùi,thường có màu trắng phớt hồng hoặc xám tro, mềm khô, khi xây xác dễ bị rách.
4. Tác hại của sùi mào gà :
– Có nguy cơ bị ung thư
– Gây vô sinh – hiến muộn
– ảnh hưởng đến tâm lý – sức khỏe
#suimaoga #HIV #STIs #fullhouse
—————————————————————————–
Full House Group
√ Phú Mỹ : Lý Thường Kiệt, KP.Tân Hạnh, TX.Phú Mỹ, BRVT
Hotline :  0961 489 169
√ Đồng Nai : Lý Thái Tổ, Phước Thiền, H.Nhơn Trạch, ĐN
Hotline 0394.397.052
√ Hà Nội : 119/21 Yên Lãng, Đống Đa, Hà Nội
Email:  fullhouse.group2019@gmail.com